Làm sao để chúng ta có thể “cân đo đong đếm” được màn trình diễn cá nhân kinh điển nhất trong lịch sử thể thao? Thật khó để đặt các bàn thắng trong bóng đá lên bàn cân cùng những cú home run trong bóng chày, những cú touchdown trong bóng bầu dục hay những cú ném rổ 3 điểm.
Thế nhưng, trên thực tế chúng ta vẫn có một thước đo khả dĩ - dù có phần đơn giản hóa vấn đề: Chiếc áo đấu của Diego Maradona trong chiến thắng 2-1 của đội tuyển Argentina trước Anh tại tứ kết World Cup 1986 chính là chiếc áo đấu có giá trị cao nhất lịch sử thể thao.
Vào tháng 5 năm 2022, chiếc áo mà Maradona từng mặc trong trận chiến lịch sử tại sân vận động Azteca đã được Sotheby’s mang ra đấu giá. Cuối cùng, nó đã được bán với mức giá kỷ lục gần 9,1 triệu USD, cao hơn gần 60% so với kỷ lục trước đó do chiếc áo đấu của huyền thoại bóng chày Babe Ruth của đội New York Yankees (mặc từ năm 1928 đến 1930) nắm giữ. Điều đáng nói là, trong khi Babe Ruth mặc chiếc áo của mình suốt hai năm, Maradona chỉ mặc chiếc áo của ông đúng 45 phút, sau khi phải thay đồ vào giờ nghỉ giải lao vì cái nóng như thiêu như đốt tại Mexico City.
Sotheby’s đã tiến hành “một quy trình thẩm định và nghiên cứu khoa học chuyên sâu” để xác minh đây chính xác là chiếc áo cần tìm - không phải chiếc áo Maradona mặc trong hiệp một mờ nhạt, mà là chiếc áo ông đã khoác lên mình khi ghi hai bàn thắng nổi tiếng nhất lịch sử bóng đá chỉ trong vòng năm phút. Những bàn thắng ấy đã được ca tụng hơn bất kỳ pha lập công nào của ông trong màu áo Argentinos Juniors, Boca Juniors ở quê nhà, hay ở châu Âu, khi ông nâng tầm Napoli lên những đỉnh cao chưa từng có.
Công bằng mà nói thì pha ghi bàn đầu tiên của Maradona tại Azteca là một tình huống gian lận trắng trợn. Còn bàn thắng thứ hai là một tuyệt tác thiên tài vô song. Hai khoảnh khắc ấy cũng chính là bức chân dung phản chiếu trọn vẹn con người vị huyền thoại này.
Chủ nhân trước đó của chiếc áo, tiền vệ Steve Hodge của đội tuyển Anh, chưa từng mảy may nghi ngờ về giá trị của nó. Là người cuối cùng rời sân vì phải trả lời phỏng vấn truyền hình ngay bên đường biên, Hodge đã vô tình bước vào đường hầm cùng lúc với một Maradona đang ngất ngây trong niềm vui chiến thắng. Ông mạnh dạn thử ngỏ lời đổi áo và thực sự bất ngờ khi được siêu sao số một của Argentina trao tay món quà mà ông đã giữ gìn suốt 36 năm sau đó - món bảo vật cuối cùng đã mang lại cho ông số tiền gấp nhiều lần tổng thu nhập của cả sự nghiệp quần đùi áo số.
Thuở ấy, bản thân chiếc áo đấu đó, theo đúng nghĩa đen, mới chỉ tồn tại chưa đầy một ngày.
Vì tuyển Anh mặc trang phục màu trắng, Argentina không thể ra sân với sắc áo sọc xanh-trắng truyền thống. Do đó, họ buộc phải sử dụng trang phục sân khách - màu xanh trơn - trận thứ hai liên tiếp, sau khi đã mặc nó trong chiến thắng 1-0 trước người hàng xóm Uruguay ở vòng 16 đội. Tuy nhiên, các cầu thủ Argentina than phiền rằng những chiếc áo đó quá dày và nặng, họ lo sợ chúng sẽ càng trở nên khó chịu hơn nữa khi trận đấu diễn ra vào giữa trưa.
Vì vậy, chỉ một ngày trước trận tứ kết với tuyển Anh, Argentina đã phải lùng sục và mua về một loạt áo đấu mỏng hơn, có sọc dọc mờ, từ một cửa hàng thể thao bình dân ở Mexico City. Logo của đội tuyển Argentina đã được khâu vội vã vào đêm trước trận đấu, cùng với đó là logo của nhà sản xuất Le Coq Sportif - dù thực tế hãng này không hề sản xuất chúng. Trong khi đó, các con số trên lưng áo được làm bằng chất liệu màu xám bạc, lấp lánh, vốn được thiết kế cho áo đấu môn bóng bầu dục Mỹ. Một cách đầy bất ngờ, quy trình chuẩn bị chắp vá, cẩu thả ấy lại tạo ra món đồ thời trang thể thao đắt giá nhất mọi thời đại.
Nhưng tất cả những điều đó lại hoàn toàn phù hợp với tính chất hỗn loạn, thậm chí là có phần nghiệp dư của giải đấu năm ấy. Mexico, quốc gia đứng ra thay thế Colombia làm chủ nhà vào tháng 5/1983 phần lớn vì các vấn đề kinh tế, đã tổ chức một vòng chung kết World Cup với các sân vận động có cơ sở vật chất nghèo nàn và những mặt cỏ tồi tệ. HLV trưởng của Argentina, Carlos Bilardo, kể lại rằng các học trò của ông đã quá kiệt sức sau mùa giải cấp CLB đến mức ông chẳng thể tổ chức các buổi tập đúng nghĩa - toàn đội thực chất chỉ “giả vờ tập luyện” để tránh bị báo giới chỉ trích vì không tập gì cả.
Như nhiều cầu thủ Argentina sau này thừa nhận, dù điều kiện khắc nghiệt đã khiến giải đấu trở nên cực kỳ khó chịu, nhưng nó lại rất phù hợp với tinh thần gan góc, lì lợm của đoàn quân năm ấy.
Bầu không khí trước trận đại chiến giữa Argentina và Anh bị bao phủ đậm đặc bởi bóng ma của “Chiến tranh Falklands” - một cuộc xung đột kéo dài 10 tuần vào năm 1982, bắt đầu khi Argentina đưa quân vào quần đảo Falklands (hay theo cách gọi của người Argentina là las Islas Malvinas), một vùng lãnh thổ thuộc Anh nằm ở Nam Đại Tây Dương. Cuộc chiến đó đã cướp đi sinh mạng của 649 người Argentina, 255 người Anh và 3 cư dân trên đảo trước khi Argentina đầu hàng.
Bốn năm sau, cuộc chạm trán trên sân cỏ giữa hai quốc gia dĩ nhiên không thể tránh khỏi tầm ảnh hưởng của cuộc chiến kia. Cả hai đội tuyển đều nhận được chỉ thị nghiêm ngặt tuyệt đối không được trả lời những câu hỏi mang tính chính trị trong các cuộc họp báo trước trận. Hầu hết đều tuân thủ, tuy nhiên thủ môn Nery Pumpido của Argentina đã đi chệch khỏi thông điệp chung khi tuyên bố rằng: “Đánh bại người Anh sẽ là một niềm hạnh phúc nhân đôi vì tất cả những gì đã xảy ra ở Malvinas.”
Argentina đã dễ dàng vượt qua vòng bảng bằng các chiến thắng nhẹ nhàng 3-1 và 2-0 trước Hàn Quốc và Bulgaria, xen giữa là trận hòa 1-1 với Italy - nơi Maradona đang đầu quân cho Napoli (đội bóng sẽ được ông truyền cảm hứng để giành Scudetto đầu tiên trong lịch sử 61 năm của họ vào năm 1987) - trước khi hạ gục Uruguay ở vòng 16 đội.
Một trong những câu hỏi muôn thuở khi đối đầu với Argentina của Maradona là liệu các huấn luyện viên đối thủ có nên cắt cử người theo kèm ông như hình với bóng hay không. Một cầu thủ sở hữu tài năng kinh khủng như ông rõ ràng cần sự chăm sóc đặc biệt. Thế nhưng, trận duy nhất mà Maradona ghi bàn trong 4 trận đấu trước đó lại là cuộc đối đầu với Italy - đối thủ duy nhất sử dụng chiến thuật 1 kèm 1 với ông. Vì vậy, chẳng ai dám chắc rằng đó là giải pháp đúng đắn.
Hơn nữa, Maradona đang ngày càng thích đá tự do hơn, ông thường linh hoạt lùi sâu hoặc dạt biên để tìm kiếm khoảng trống. Tuyển Anh, vốn quen chơi với đội hình 4-4-2 cùng đấu pháp phòng ngự khu vực, đơn giản là không thoải mái với việc cắt cử một người tập trung hoàn toàn vào nhiệm vụ chạy theo Maradona. Trong khi đó, Bilardo đã đưa ra một thay đổi chiến thuật quan trọng: Từ bỏ đội hình 4-3-1-2 để chuyển sang 3-5-2, nhằm gia tăng sự chắc chắn trước cặp đôi trung phong của Anh, đồng thời để Maradona hoạt động ngay sau Jorge Valdano thay vì chơi phía sau hai trung phong. Đây là một quyết định gây bất ngờ rất lớn vì nó đồng nghĩa với việc gạch tên Pedro Pasculli - tiền đạo đã ghi bàn thắng duy nhất giúp Argentina đánh bại Uruguay. Từ đó trở đi, Pasculli đã không được thi đấu thêm một phút nào nữa tại kỳ World Cup năm ấy.
Dù trên lý thuyết ông đang được bố trí đá cao hơn, nhưng Maradona đã xuất hiện ở mọi ngóc ngách trên sân trước người Anh. Ông thường xuyên lùi sâu để nhận những đường chuyền ngắn từ các đồng đội có kỹ thuật kém hơn, nhưng vẫn duy trì sự hiện diện ở khoảng không gian giữa 2 tuyến tiền/hậu vệ của đối thủ khi quả bóng ở trong chân Sergio Batista - người mà Maradona hoàn toàn tin tưởng có thể tung ra những đường chuyền xé toang đội hình đối thủ và hướng về phía mình. Ông cũng hay dạt sang hai biên để tìm khoảng trống trước khi thực hiện những pha phối hợp ban bật với các đồng đội, đặc biệt là với Valdano.
Valdano đã có 4 lần “phản hồi” bằng những pha chạm bóng lỗi khiến trái bóng nảy lên không trung - có lẽ là do mặt sân quá gồ ghề. Về phần mình, Maradona liên tục thực hiện những cú giật gót điệu nghệ trong khi đang lao đi với tốc độ tối đa, khiến các hậu vệ Anh hoang mang không biết nên đuổi theo người hay đuổi theo bóng.
Ngay cả trong một hiệp một không có nhiều điểm nhấn, Maradona vẫn tạo nên một màn trình diễn cá nhân thượng thặng. Ông sở hữu một phong cách sút bóng vô cùng đặc biệt và dị biệt - một pha đá phạt cự ly gần được thực hiện nhẹ nhàng đến khó tin, nhẹ tới mức thật kỳ diệu khi quả bóng có thể bay qua hàng rào rồi suýt chút nữa găm thẳng vào góc gần. Dù siêu sao thuộc biên chế Napoli cũng đã có vài đường chuyền hỏng và một quả tạt vô vọng ở giữa hiệp một, nhưng ngay cả khi bạn chưa từng xem một trận bóng đá nào trước đó, bạn vẫn có thể dễ dàng nhận ra Maradona chính là nhân tố kiệt xuất nhất trong số 22 con người đang hiện diện trên sân.
Trận đấu cũng không thiếu những khoảnh khắc hài hước. Giữa hiệp một, Maradona chạy đến thực hiện một quả phạt góc bên cánh phải. Vài nhiếp ảnh gia đã đứng chắn tầm chạy đà của ông, thế là Maradona liền phản ứng bằng cách nhổ bật cột cờ góc ném xuống đất để có một đường chạy đà thẳng hơn.
Nhưng trọng tài biên người Costa Rica, Berny Ulloa, không chấp nhận điều đó. Ông yêu cầu Maradona phải cắm lại cờ, một mệnh lệnh chỉ được thực hiện một nửa vì Maradona tuy đã cắm lại chiếc cột nhưng lại bỏ mặc lá cờ trên mặt đất. Ulloa kiên quyết bắt phải có cả lá cờ, và ông đã đứng chắn đường Maradona cho đến khi mọi thứ trở lại nguyên vẹn.
Thế là Maradona nhặt lá cờ lên và cố tình đặt nó hờ hững trên đỉnh cột như một lời mỉa mai. Ulloa vẫn không hài lòng, cuối cùng ông đành miễn cưỡng luồn lá cờ trở lại vào cột một cách chuẩn chỉ. Đó là một màn đôi co hoàn toàn vô nghĩa và lãng phí thời gian - một tình huống… “rất Maradona” - nhưng đồng thời cũng là một ví dụ nhỏ cho thấy tại sao ông lại được yêu mến đến thế. Người đàn ông này là một nghệ sĩ giải trí bẩm sinh của sân cỏ.
Dĩ nhiên, đây không phải là sự cố duy nhất liên quan đến công tác trọng tài mà người ta nhớ nhất trong trận đấu ấy.
Có một điều rất đáng lưu tâm nhưng lại thường xuyên bị bỏ quên trong những tranh cãi xoay quanh bàn thắng mở tỷ số bằng tay của Maradona chính là mức độ bạo lực mà ông phải hứng chịu suốt cả trận đấu. Trong hai đội, chính tuyển Anh mới là những người nhập cuộc với lối chơi nhuốm màu phi thể thao.
Mọi chuyện bắt đầu ngay từ phút thứ hai, khi Maradona nhận bóng và xoay người trong vòng tròn trung tâm sân đấu, ông đã bị hậu vệ Terry Fenwick lao thẳng vào người ngay trước mắt trọng tài. Tình huống này không có gì quá bất thường đối với bóng đá thời ấy; Argentina vẫn giữ được bóng và trận đấu tiếp tục. Nhưng chỉ 30 giây sau, Maradona lại bị phạm lỗi lần thứ hai bởi tiền vệ Peter Reid, và lần này ông được hưởng một quả đá phạt.
Tất nhiên, với một cầu thủ có đam mê rê dắt bóng như Maradona, việc ông thường xuyên trở thành mục tiêu của các pha tranh chấp và phạm lỗi là điều không thể tránh khỏi. Ông đã có 53 lần lừa bóng qua người tại kỳ World Cup này, nhiều hơn tận 37 lần so với cái tên đứng thứ hai và đây là con số cao nhất từng xuất hiện ở một kỳ World Cup theo thống kê của Opta, đơn vị nắm giữ số liệu của mọi trận đấu tính từ năm 1966. Đáng kinh ngạc hơn, Maradona cũng chính là cầu thủ bị phạm lỗi nhiều nhất tại các kỳ World Cup 1982, 1986 và 1990. Tuy nhiên, cách các cầu thủ Anh truy cản, đốn ngã ông trong trận đấu này là vượt xa mức thông thường - theo những “phương pháp” mà nếu xem lại ngày nay ai cũng phải cảm thấy rùng mình.
Phút thứ chín, Maradona đỡ bóng bằng ngực, rê bóng vượt qua hậu vệ trái Kenny Sansom và bị Fenwick đốn ngã một cách thô bạo - rõ ràng gã hậu vệ hoàn toàn không nhắm vào quả bóng mà tung ra một cú xoạc kiểu cắt kéo đầy ác ý để triệt hạ Maradona một cách tàn bạo nhất có thể. Vừa trở lại sau án treo giò vì nhận hai thẻ vàng ở vòng bảng, Fenwick ngay lập tức phải nhận thêm một tấm thẻ vàng nữa. Suốt 81 phút còn lại, ông ta sẽ phải đối đầu với chuyên gia rê bóng xuất sắc nhất thế giới trong khi đã mang trên mình một chiếc thẻ phạt.
Và trong 81 phút đó, tấm thẻ vàng đầu tiên ấy đáng lẽ phải trở nên vô nghĩa; không phải vì Fenwick đã đủ bình tĩnh để kiềm chế bản thân trước Maradona, mà vì ông ta xứng đáng phải nhận ít nhất hai thẻ đỏ trực tiếp sau đó.
Tình huống trắng trợn nhất diễn ra 5 phút trước giờ nghỉ giải lao. Maradona cầm bóng đâm lên phía trước từ một vị trí lệch trái và chuyền nó sang cho trung vệ lệch phải José Luis Cuciuffo, người đã tung ra một cú dứt điểm tệ hại, và cú sút ấy sẽ càng trông thảm hại hơn khi bạn thấy rằng ông đang khoác chiếc áo số 9 (đội hình Argentina năm đó không đánh số theo vị trí mà theo thứ tự bảng chữ cái - ngoại trừ ba ngoại lệ là Daniel Passarella, Maradona và Valdano được phép mặc các số áo ưa thích của họ là 6, 10 và 11).
Khi Cuciuffo sút bóng vọt xà, Maradona vẫn tiếp tục lao ra phía sau Fenwick và bị gã thúc cùi chỏ thẳng vào mặt. Ông đã phải nằm sân và nhận sự chăm sóc của các bác sĩ Argentina trong vài phút. Khi cuối cùng cũng gượng dậy được, ông tiến thẳng về phía Fenwick, chỉ tay vào gã và làm động tác thúc cùi chỏ để tố cáo pha chơi xấu. Fenwick phân bua đó chỉ là một tai nạn không mong muốn. Maradona lắc đầu, ông không bao giờ tin lời biện minh đó.
Tình huống thứ hai diễn ra chỉ hai phút trước bàn thắng mở tỷ số của Argentina và nó chứa đầy sự mỉa mai.
Một cú phá bóng mạnh của La Albiceleste đưa nó rơi xuống rồi nảy lên ở khoảng giữa Fenwick và Maradona nơi vòng tròn trung tâm sân đấu. Đội trưởng Argentina bật cao đón bóng trong khi Fenwick cũng lao mình vào không trung, giơ cao cánh tay một cách đầy hung hãn - một kiểu tranh chấp bóng bổng vô cùng bất thường. Trông ông ta giống như đang cố dùng tay chơi bóng, nhưng thực tế, mục tiêu thực sự của ông ta chắc chắn là một lần nữa muốn đập nát khuôn mặt của Maradona bằng cái cùi chỏ của mình.
Nhưng Fenwick, trong nỗ lực chơi bẩn, lại thực sự để thua trong pha tranh chấp - Maradona đã kịp chạm đầu vào bóng và đưa nó vượt qua tầm kiểm soát của hậu vệ này, dù bản thân ông không thể đuổi theo bóng vì lại phải nằm sân ôm đầu đau đớn. Fenwick không chạm được vào bóng, nhưng chạm được vào người.
Xét một cách toàn diện những gì đã xảy ra trước đó, chứng kiến cảnh tuyển Anh liên tục tìm cách triệt hạ Maradona, thật khó để dành sự cảm thông cho họ khi chỉ hai phút sau tình huống ấy - và sau khi Valdano một lần nữa khống chế lỗi đường chuyền của Maradona, tạo điều kiện cho Hodge phá bóng ngược lên không trung - Maradona đã băng lên tranh chấp với thủ môn Peter Shilton và giơ cao cánh tay của mình. Khác với Fenwick, thay vì “chạm” trúng người thì ông lại chạm được vào bóng, khiến nó văng vào lưới trống.
Liệu Maradona có bị kích động bởi những pha chơi xấu của Fenwick? Phải chăng ban đầu ông chỉ muốn đáp trả sự hung hãn của người Anh bằng cách dùng cùi chỏ để trả đũa, rồi vô tình đưa mình vào tư thế có thể dùng tay ghi bàn?
Bất kể sự thật là gì, bàn thắng vẫn được công nhận. Cách quả bóng bay từ vị trí của Maradona vào lưới cho thấy một lực tác động yếu ớt hơn nhiều so với một cú đánh đầu chuẩn xác. Nhưng trọng tài người Tunisia, Ali Bennaceur, đã không nhìn thấy pha chạm tay, và trọng tài biên người Bulgaria, Bogdan Dochev, cũng vậy. Ngay cả khi một trong hai người có chút nghi ngờ, thì sự bất đồng ngôn ngữ cũng khiến họ không thể trao đổi một cách đàng hoàng để đưa ra quyết định chính xác. Điều kỳ lạ là, trong trận hòa 2-2 ở vòng bảng giữa Paraguay và Bỉ, bộ đôi này cũng làm việc cùng nhau - nhưng khi đó, Dochev là trọng tài chính còn Bennaceur là trọng tài biên.
Maradona đã thản nhiên ăn mừng như thể chẳng có gì bất thường xảy ra cả, ông chạy về phía khán đài nơi cha mình đang ngồi. Sau đó, trong khi các hậu vệ Anh điên cuồng khiếu nại lỗi chạm tay, Maradona đã có một hành động ăn mừng đầy ngạo nghễ khi liên tục giơ nắm đấm trái lên trời hướng về phía khán giả, mô phỏng lại cú chạm bóng định mệnh của mình. Valdano phải chạy tới và bảo ông dừng lại ngay, đề phòng các trọng tài nhận ra điều bất thường.
Và rồi, khoảnh khắc được coi là bàn thắng được ca tụng nhiều nhất lịch sử bóng đá đã đến.
Thông thường, những bàn thắng vĩ đại trong thế giới bóng đá có thể chia thành 3 trường phái: Một tình huống phối hợp tập thể hoàn hảo, một cú dứt điểm thần sầu, hoặc một màn độc diễn kỹ năng đi bóng trước khi đưa nó vào lưới. Mỗi trường phái đều có một “vị vua” chính thức: Carlos Alberto vào lưới Italy năm 1970, Marco van Basten vào lưới Liên Xô năm 1988, và Diego Maradona vào lưới Anh năm 1986. Đó là bộ ba vĩ đại không thể lay chuyển của lịch sử bóng đá.
Màn đi bóng solo này xuất sắc ngay từ những bước xử lý đầu tiên. Maradona thực hiện một pha giật bóng kép tinh tế để thoát khỏi sự đeo bám của Peter Beardsley và Reid, khiến khắp các khán đài dậy sóng dù ông vẫn còn ở bên phần sân nhà. Tiếp sau đó là cú “sang số” tăng tốc đặc trưng, ông xé gió lao đi, vượt qua Terry Butcher từ phía trong, đánh bại Fenwick từ phía ngoài, và rồi loại bỏ nốt cả thủ thành Shilton trước khi đưa bóng vào lưới.
Cái cách ông lừa bóng qua Shilton trông mượt mà và tự nhiên như một lẽ tất yếu sau khi đã biến 4 cầu thủ Anh thành những gã hề, nhưng Maradona sau này tiết lộ rằng, ngay trong khoảnh khắc đó, ông đã chợt nhớ lại một tình huống tương tự trong trận giao hữu với tuyển Anh sáu năm trước tại Wembley. Khi ấy, ông đã cố gắng dứt điểm bằng lòng trong chân trái lúc 1 chọi 1 với thủ môn Ray Clemence nhưng bóng lại đi chệch cột xa trong gang tấc.
Tối hôm đó, cậu em trai Hugo khi ấy mới 11 tuổi đã gọi điện trách móc ông vì đã vội vã sút bóng khi Clemence đã lao ra, bỏ lại một khoảng trống mênh mông để lừa bóng qua. Lúc đó, Maradona đã vô cùng tức giận vì bị cậu em trai “vắt mũi chưa sạch” dạy đời. Nhưng nửa thập kỷ sau, khi đối mặt với một thủ môn khác của người Anh, ông đã nhớ lại cuộc trò chuyện ấy. Ông quyết định nghe theo lời khuyên của Hugo, cẩn thận rê bóng qua nốt Shilton và đưa nó vào lưới trống bất chấp áp lực từ cú nhoài người tuyệt vọng của Butcher. Lần này, không một ai có thể nghi ngờ về sự hợp lệ của siêu phẩm đó.
Ngay cả khi hai bàn thắng kia đã được ghi, tình trạng bạo lực trên sân đấu vẫn cứ tiếp diễn khi Fenwick tiếp tục vung cùi chỏ vào mặt Maradona trong một pha tranh chấp bóng hai sau đường chuyền dài của Valdano. Trọng tài lại thổi phạt, nhưng Maradona không thể thực hiện quả đá phạt đó vì ông phải rời sân để các bác sĩ chăm sóc một lần nữa.
Công bằng mà nói, Fenwick không phải là “kẻ thủ ác” duy nhất. Beardsley đã có một pha vào bóng nguy hiểm bằng cả hai chân, Reid đã thực hiện một cú xoạc bóng thô bạo sau khi bị kỹ thuật của Maradona vượt qua, và một cú ngáng chân từ Hodge đã khiến Maradona ngã lộn nhào rồi va chạm mạnh với Sansom, làm cho số 10 của Argentina lại phải nằm sân ôm đầu. Công tác trọng tài thời đó rất khác so với bây giờ, nhưng nếu xem trọn vẹn 90 phút của trận đấu này, cái cách mà Tam Sư đối xử với Maradona sẽ khiến ngay cả những người Anh thiên vị nhất cũng phải cảm thấy hổ thẹn.
Sau trận đấu, chính bàn thắng mở tỷ số đầy tranh cãi chứ không phải siêu phẩm thứ hai mới là tâm điểm của mọi cuộc thảo luận. Ban đầu, Maradona quả quyết đó là một pha làm bàn hoàn toàn hợp lệ: “Tôi thề bằng cả mạng sống của mình, tôi đã đánh đầu trúng bóng. Có lẽ mọi người đã nhìn thấy nắm đấm của Shilton nên mới có sự nhầm lẫn. Nhưng đó chắc chắn là một cú đánh đầu. Không có gì để nghi ngờ cả. Tôi thậm chí còn có một vết sưng trên trán đây này.”
Thực ra, vế cuối cùng có lẽ là thật, nếu nhìn vào số lần Fenwick “tương tác” với khuôn mặt của ông.
Nestor Ferrero, một nhà báo người Argentina làm việc cho một hãng tin của Italy và đã theo sát Maradona trong những năm tháng ông chinh chiến tại Serie A, biết thừa tay siêu sao này đang nói dối. “Chà,” Ferrero nói. “Vậy thì đó chắc hẳn phải là ‘bàn tay của Chúa’ rồi.” Maradona vô cùng khoái chí với câu nói đó: “Chắc là vậy rồi,” ông đồng tình.
Vì vậy, cụm từ nổi tiếng trên không phải là do Maradona tự nghĩ ra, và ban đầu nó cũng chẳng gây tiếng vang lớn. Theo nhà báo Guillem Balague kể lại trong cuốn tiểu sử về huyền thoại này, chỉ có duy nhất một tờ báo ở Argentina sử dụng cụm từ “Bàn tay của Chúa” vào ngày hôm sau. Dẫu vậy, Maradona sau đó đã thường xuyên nhắc đến nó, và hay gắn nó với khái niệm “một sự trả thù ngọt ngào” cho cuộc xung đột ở Falklands.
Điều đáng sợ là, đây vẫn chưa phải trận đấu thăng hoa nhất của Maradona trong cuộc hành trình năm ấy. Ông đã tiếp tục lập một cú đúp trong màn trình diễn ngoạn mục tạo nên chiến thắng 2-0 trước Bỉ tại vòng bán kết. Một lần nữa, cả hai pha ghi bàn đều đến ngay sau giờ nghỉ giữa 2 hiệp. Đầu tiên, Maradona mở tỷ số sau một pha băng ra phía sau hàng thủ đối phương để đón lấy đường chọc khe bằng má ngoài của Jorge Burruchaga rồi thực hiện một cú vẩy má ngoài điệu nghệ hạ gục thủ thành Jean-Marie Pfaff. Sau đó, ông kết liễu trận đấu bằng một tình huống nhận bóng giữa 2 tuyến tiền/hậu vệ của đối thủ, lừa qua 4 cầu thủ phòng ngự của Bỉ rồi sút tung lưới.
Lúc này, người ta đã bắt đầu nói rằng đây chính là chiến dịch World Cup vĩ đại nhất mà một cá nhân từng tạo ra trong lịch sử.
Chính vì vậy, việc Maradona tịt ngòi trong chiến thắng 3-2 trước Tây Đức ở trận chung kết đã bị coi là một nỗi thất vọng nho nhỏ. Yếu nhân của tuyển Đức, Lothar Matthäus, được giao trọng trách theo kèm Maradona và nhìn chung đã đảm đương rất tốt nhiệm vụ này, tuy nhiên pha phạm lỗi không cần thiết ở phút 21 đã khiến Matthäus phải nhận thẻ vàng và gây ra quả đá phạt dẫn đến bàn mở tỷ số của José Luis Brown. Maradona cũng góp dấu giày trong bàn thắng nâng tỷ số lên 2-0 của Valdano, và chính ông là người đã kiến tạo cho Burruchaga ghi bàn ấn định chiến thắng cho đội bóng Nam Mỹ. Đó là pha kiến tạo thứ năm của ông tại kỳ World Cup ấy, bên cạnh 5 bàn thắng - một thống kê hoàn hảo chứng minh ông vừa là một bậc thầy sáng tạo, vừa là sát thủ định đoạt trận đấu.
Dẫu vậy, hai pha ghi bàn vào lưới tuyển Anh vẫn là những ký ức ấn tượng, sâu đậm nhất, và chúng sẽ càng trở nên phi thường hơn khi chúng ta chứng kiến trọn vẹn 90 phút khắc nghiệt của trận đấu đó. Maradona đã phải liên tục hứng chịu những đòn triệt hạ thô bạo, phi thể thao, nhưng ông vẫn có thể kéo cả tập thể đến với một chiến thắng vĩ đại.
“Tôi đã nện gã hai hay ba lần gì đó để dằn mặt, nhưng tôi vẫn không thể làm lung lay gã,” Fenwick cay đắng thừa nhận trong một cuộc phỏng vấn với Sky Sports sau khi Maradona qua đời vào năm 2020. “Gã cứ liên tục trò chuyện với tôi suốt trận đấu, thái độ ‘chill’ như thể đang đi dạo trong công viên vậy.”
Nhưng sai lầm lớn nhất của Fenwick lại đến sau tiếng còi mãn cuộc: Maradona đã chủ động tiến đến ngỏ lời đổi áo - và Fenwick đã lắc đầu từ chối, qua đó bỏ lỡ cơ hội sở hữu chiếc áo đấu đắt giá nhất lịch sử thể thao.