Có một luồng quan điểm cho rằng các số 9 chính thống đang dần “tuyệt chủng”, nhưng Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch lại đang thực thi rất tốt vai trò của những người bảo tồn.
Trong mùa giải 2025/26, hàng công của 3 trong số 5 đội bóng mạnh nhất Premier League (dựa trên vị trí chung cuộc ở mùa giải 2024/25) sẽ được dẫn dắt bởi các tiền đạo trung tâm người Scandinavia.
Manchester City đã trải qua 3 mùa giải hưởng lợi từ một Erling Haaland sở hữu sự hiệu quả bên trong vòng cấm như thể một con robot, Alexander Isak đã nổi lên như một trong những tiền đạo xuất sắc nhất châu Âu ở Newcastle United, và giờ họ được đồng hành cùng Viktor Gyökeres - đồng đội của Isak ở ĐTQG Thụy Điển - sau khi anh gia nhập Arsenal.
Chân sút 27 tuổi tiêu tốn của The Gunners đến 65 triệu bảng, nhưng bên cạnh ý nghĩa to lớn đối với CLB chủ sân Emirates, nó còn làm nổi bật hơn nữa thành tích của khu vực Scandinavia trong việc sản sinh ra những trung phong chất lượng cho giới bóng đá nam - và Gyökeres chính là cái tên mới nhất góp mặt ở giải VĐQG hàng đầu châu Âu.
Phần lớn trong số những trung phong đến từ Scandinavia ấy trùng khớp với khuôn mẫu “số 9 truyền thống”. Dĩ nhiên là mỗi người đều có các điểm mạnh, điểm yếu và phong cách đặc trưng riêng, nhưng ở họ vẫn toát lên dáng dấp “cổ điển” từ thể hình và lối chơi: Họ chủ yếu hoạt động trong trung lộ, thể hình cao lớn - thường rất mạnh mẽ - và có mục tiêu hàng đầu là những bàn thắng.
Trong khoảng 10-15 năm qua, phần lớn những ngôi sao tấn công nổi bật nhất đều là các tiền đạo cánh, nhiều đến mức bạn không cần tìm đâu xa để thấy các nhân vật có tiếng nói trong giới bóng đá - bao gồm cả trung phong huyền thoại người Anh Alan Shearer - cho rằng các số 9 truyền thống đang “dần tuyệt chủng”. Nhưng ở Scandinavia, điều đó hoàn toàn sai.
GIỮ VỮNG THÀNH TRÌ
Dù ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi về việc “Scandinavia” bao gồm những vùng lãnh thổ nào, nhưng trong bài viết này chúng ta sẽ bám theo cách hiểu phổ biến nhất: Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch.
Tất nhiên, chẳng ai nói rằng 3 quốc gia này trước đây chưa từng sản sinh ra những tiền đạo trung tâm giỏi. Nhưng trong thời đại mà các tiền đạo cánh đang “lên ngôi” như hiện nay, người ta cảm nhận thấy rằng Scandinavia đang sản sinh ra những số 9 chất lượng cao với tần suất vượt xa phần còn lại của giới bóng đá nam, đặc biệt là khi xét đến tổng dân số khiêm tốn của họ, chỉ khoảng 22,1 triệu người. Để dễ hình dung, nếu gộp lại thành một quốc gia, họ sẽ chỉ nằm giữa Mali (22,4 triệu) và Siri Lanka (21,7 triệu) trên bảng xếp hạng dân số thế giới.
Thật ra thì không có cách nào thực sự chắc chắn để chứng minh rằng Scandinavia đang sản sinh ra mẫu cầu thủ này với tần suất khác biệt rõ rệt so với những thời kỳ trước, nhưng số lượng bàn thắng đến từ các cầu thủ Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch sẽ mang tới nhiều thông tin rất hữu ích.
Lần về mùa giải đầu tiên mà Opta có đầy đủ dữ liệu về các bàn thắng (mùa 1998/99), bạn sẽ thấy số bàn thắng được ghi bởi các cầu thủ Scandinavia đã giảm dần sau khi bước sang thế kỷ 21 và chạm đáy vào mùa giải 2012/13, thời điểm chỉ có 77 pha ghi bàn đến từ các cầu thủ Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch.
Nhưng nếu chỉ nhìn vào 5 mùa giải gần nhất, tình hình đã có sự khởi sắc đáng kể.
Tuy nhiên, có một vài điểm chúng ta cần lưu ý. Thứ nhất, đây là tổng số bàn thắng của tất cả các cầu thủ, chứ không chỉ riêng những tiền đạo trung tâm; thứ hai, đây không phải là những con số quá đồ sộ nên chỉ cần một cầu thủ có một mùa giải bùng nổ là đã có thể làm thay đổi cục diện đáng kể; và thứ 3 - liên quan mật thiết đến điểm thứ 2 - là Haaland rõ ràng đã đóng góp rất lớn vào cú bứt phá này.
Dù vậy thành tích phi thường của Haaland vẫn là một minh chứng đanh thép cho lập luận Scandinavia đang sản sinh ra những trung phong đẳng cấp. Và quan trọng hơn hết: Họ không chỉ có một mình Haaland.
Tại Premier League mùa trước, 3 trong số 10 tay săn bàn hàng đầu giải đấu này là người Scandinavia và Haaland thậm chí không phải là cái tên đứng đầu trong nhóm đó: Thành tích của chân sút 24 tuổi là 22 bàn, kém hơn 1 bàn so với Alexander Isak (23 bàn) và nhiều hơn 8 bàn so với Jørgen Strand Larsen (14 bàn). Haaland đã phải ngồi ngoài một thời gian vì chấn thương trong mùa giải 2024/25, nên chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin rằng tổng số bàn thắng của những chàng trai Scandinavia này lẽ ra còn có thể cao hơn nữa. Alexander Sørloth cũng là một cái tên xứng đáng được nhắc đến khi ghi tới 20 bàn cho Atlético Madrid ở La Liga mùa trước.
Tất nhiên, thành tích của Gyökeres đã không được tính vào bất kỳ nhóm số liệu nào ở trên vì mùa trước anh không thi đấu ở 1 trong 5 giải VĐQG hàng đầu châu Âu. Nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến việc anh đã ghi tới 39 bàn cho Sporting CP ở Primeira Liga mùa 2024/25, nhiều hơn gấp đôi so với 2 người xếp ngay sau anh (Samu Aghehowa và Vangelis Pavlidis cùng có 19 bàn). Với thành tích đó, anh chỉ kém hơn duy nhất Kylian Mbappé trong cuộc đua tranh Chiếc Giày Vàng châu Âu.
Đối với những người hay hoài nghi thì việc đề cao Scandinavia chỉ vì một vài cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng có lẽ sẽ nghe hơi quá phóng đại. Nhưng hãy nhìn vào thực tế: Đã có 6 cầu thủ Scandinavia ghi từ 10 bàn trở lên ở các giải VĐQG hàng đầu châu Âu trong mùa giải 2024/25, ngang bằng với Brazil và Italy, chỉ kém Anh đúng một người, và chỉ có 3 cường quốc bóng đá khác vượt qua được con số này: Pháp (14), Tây Ban Nha (11) và Đức (8).
Ở mùa giải 2023/24, kịch bản tương tự cũng đã diễn ra, khi có 6 cầu thủ Scandinavia ghi được từ 10 bàn trở lên ở Top 5 giải VĐQG hàng đầu châu Âu, chỉ xếp sau Anh (12 người), Tây Ban Nha (7 người), Pháp và Đức (cùng có 9 người).
Tất nhiên, những số liệu này cũng cần được nhìn nhận một cách tỉnh táo. Chắc chắn sẽ có không ít người phản bác rằng: “Nếu chúng ta được phép gộp 3 quốc gia thành một chủ thể rồi gom thành tích của họ lại với nhau thì tôi cũng có thể gộp Hà Lan và Bỉ lại vậy.” Đúng thế, nhưng bạn nên biết rằng bên cạnh tất cả những điều làm nên sự độc đáo của tổ hợp Na Uy, Thuỵ Điển và Đan Mạch, giữa 3 đất nước này còn có các mối liên kết lịch sử, kinh tế và văn hoá rất chặt chẽ, khiến họ thường được xếp chung trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. “Scandinavia” hoàn toàn không phải là một khái niệm do tôi bịa ra để phục vụ cho một câu chuyện.
Dù vậy, không thể phủ nhận rằng 3 quốc gia này không giống nhau 100% , và trong lĩnh vực bóng đá cũng vậy.
SỰ HỖ TRỢ CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG
Andreas Georgson - hiện là trợ lý cho HLV trưởng Thomas Frank của Tottenham - là một nhân vật từng có nhiều đóng góp lớn trong công tác phát triển cầu thủ trẻ ở quê nhà Thuỵ Điển của mình. Ông đã chia sẻ với Opta Analyst rằng: “Tôi nghĩ trường hợp của Đan Mạch rất khác so với Na Uy và Thuỵ Điển. Các học viện và chương trình đào tạo trẻ ở Đan Mạch vốn đã chuyên nghiệp và bài bản hơn Na Uy và Thuỵ Điển từ lâu rồi, nên họ có một lịch sử phát triển tài năng trẻ dài hơn. Cái cách Midtjylland, FC Copenhagen, Nordsjaelland đầu tư nằm ở một đẳng cấp hoàn toàn khác biệt.”
Ngoài ra còn có sự khác biệt về khí hậu. Tuy không phải là vùng nhiệt đới nhưng Đan Mạch nhìn chung ấm hơn và, trong một thời gian dài, điều này đã mang lại lợi thế đáng kể so với Thuỵ Điển và Na Uy trong việc phát triển cầu thủ.
“Ở Đan Mạch, bóng đá vốn đã là một môn thể thao diễn ra quanh năm sẵn rồi,” Georgson nói tiếp. “Còn ở Thuỵ Điển, chỉ trong khoảng 20-30 năm trở lại đây mới bắt đầu bùng nổ sân cỏ nhân tạo, qua đó biến bóng đá trở thành một môn thể thao quanh năm, hoàn toàn khác trước kia.”
Na Uy cũng bắt đầu có hướng đi tương tự từ những năm 1990, và đến năm 2002 Liên Đoàn Bóng Đá Na Uy đã tuyên bố rằng giải VĐQG của họ sẽ cho phép sử dụng sân cỏ nhân tạo trên toàn quốc, thay vì chỉ cấp phép đặc biệt cho một vài CLB ở miền Bắc như trước. Hiện nay, trên toàn Na Uy có khoảng 1.800 sân cỏ nhân tạo.
“Bất kể bạn đến từ đâu, từ ngôi làng này sang ngôi làng khác, từ khu dân cư này sang khu dân cư khác, thường sẽ luôn có một hoặc hai sân bóng 3G hoặc 4G ngon nghẻ,” cựu HLV trưởng của Notts County và Forest Green Rovers là Ian Burchnall chia sẻ với Opta Analyst khi hồi tưởng về quãng thời gian làm việc tại Na Uy cho Sarpsborg và Viking. “Các sân bóng đó luôn mở cửa, và rất an toàn - nên bọn trẻ cứ thế ra đấy chơi thôi.”
Tất nhiên, khi phân tích sự phát triển bùng nổ của công tác đào tạo trung phong ở những quốc gia này, chúng ta không thể nào bỏ qua bức tranh toàn cảnh về cách các cầu thủ tại đây được đào tạo và môi trường thi đấu của họ.
Ví dụ, Burchnall - người cũng từng làm việc ở Thuỵ Điển cho CLB Östersund - đã chỉ ra một điểm mà ông cho là sự khác biệt lớn giữa bóng đá trẻ Na Uy/Thuỵ Điển và (chẳng hạn như) Anh: “Tự do hơn”. “Cách huấn luyện ở đây lấy các cầu thủ làm trọng tâm,” ông chia sẻ. “Nó không quá đặt nặng tính cấu trúc, tính hệ thống, và tôi tin rằng đây là một điều tốt.”
Quan điểm trên cũng trùng khớp với trải nghiệm của Georgson, một nhân vật từng đảm nhận nhiều vị trí liên quan đến công tác đào tạo trẻ ở Malmö, và ông đã tỏ ra rất tự hào khi kể rằng học viện của họ đang “thực sự lấy các cầu thủ làm trọng tâm và chú trọng đến việc phát triển cá nhân.”
Nhưng đồng thời Georgson cũng khẳng định rằng họ vẫn phải tìm kiếm sự cân bằng. Vẫn phải “tạo ra sự cạnh tranh”, đồng thời phát huy những phẩm chất vốn đã nổi tiếng xưa nay của các cầu thủ Thuỵ Điển như “tính tổ chức, thể lực và tinh thần tập thể”. Trong khi đó, sự thịnh hành của sân cỏ nhân tạo đã giúp nâng cao kỹ thuật cho các cầu thủ - kể cả khi không phải là những buổi tập chính thức - nhờ điều kiện mặt sân ổn định và hoạt động được trong mọi điều kiện thời tiết. Cũng không phải là vô lý khi bảo rằng điều này ảnh hưởng phần nào đến hình mẫu cầu thủ mà trẻ em muốn trở thành.
“Tôi nghĩ khoảng thời gian 20 năm trở lại đây đã giúp các cầu thủ trở nên thực sự khéo léo cũng như thành thạo mọi chi tiết trong khâu tấn công,” Georgson nói thêm. “Thế là bạn có sự kết hợp của những điểm mạnh truyền thống với những phẩm chất mới, cộng thêm 20 năm tuyệt hảo trong công tác rèn luyện và phát triển kỹ năng cho họ - cả về số lượng lẫn chất lượng.”
Về phần mình, Đan Mạch lại không quá dựa dẫm vào hạ tầng sân cỏ nhân tạo như Thuỵ Điển hay Na Uy, bởi nền văn hoá bóng đá của họ vốn đã gắn chặt với trường phái bóng đá tấn công phóng khoáng, kỹ thuật.
Phong cách “Danish Dynamite” của thập niên 1980 từng tạo nên một làn sóng hâm mộ cuồng nhiệt bởi lối đá đầy tính kích thích, thậm chí có lúc điên cuồng mà Đan Mạch đã sử dụng để giành vé vào chơi vòng bán kết Euro 1984 và chiếm lĩnh ngôi đầu ở bảng đấu của mình tại World Cup 1986. Trong cuốn sách Danish Dynamite: The Story of Football’s Greatest Cult Team, hai tác giả Rob Smyth và Lars Eriksen (viết cùng Mike Gibbons) đã mô tả đội tuyển quốc gia Đan Mạch thuở ấy là “phiên bản tua nhanh” của Hà Lan - đội bóng đã mang đến thế giới khái niệm Total Football.
Đan Mạch từ lâu đã sản sinh ra nhiều cầu thủ bóng đá đầy kỹ thuật và chất lượng. Và rồi, tất nhiên không thể kể sót, họ đã giành chức vô địch Euro 1992 dù cho ban đầu chỉ được góp mặt ở giải đấu này nhờ việc Nam Tư bị bãi miễn tư cách tham dự vì không còn là một quốc gia thống nhất.
KHÔNG CHỈ ĐƠN THUẦN LÀ BÓNG ĐÁ
Trong 3 quốc gia Scandinavia, có lẽ Đan Mạch là đất nước đang bị nhiều người đánh giá thấp nhất nếu xét riêng về trình độ của các tiền đạo trung tâm hiện có. Rõ ràng quan điểm này đã càng được củng cố thêm bởi mùa giải tệ hại vừa qua của Rasmus Højlund ở Manchester United.
Tuy nhiên, cách đây không lâu, Højlund vẫn được xem là một tiền đạo giàu tiềm năng, đồng thời khá trùng khớp với hình mẫu số 9 truyền thống nhờ vóc dáng cao lớn và thể lực đáng nể; ngoài ra Kasper Dolberg và Jonas Wind cũng từng lĩnh xướng vị trí trung phong của ĐTQG Đan Mạch trong những năm gần đây.
Mika Biereth không quá khác biệt so với Højlund về thể hình nhưng dường như sở hữu bản năng săn bàn bên trong vòng cấm sắc bén hơn hẳn tiền đạo của Manchester United, và chính điều này đã giúp anh trở thành một trong những trung phong có phong độ cao nhất châu Âu mùa giải 2024/25 trong màu áo Monaco (dù chúng ta cần lưu ý rằng chàng trai này sinh ra ở London, trưởng thành tại các học viện Fulham và Arsenal). Vì vậy, dù Đan Mạch không có cái tên nào đạt đến đẳng cấp như Haaland hay Isak, nhưng họ chưa từng thiếu đi những sự lựa chọn đáng kỳ vọng, và khả năng cao là điều này sẽ tiếp tục được duy trì.
“Đội hình 4-3-3 rất phổ biến ở Đan Mạch; hầu như mọi đội bóng ở Superliga đều chơi 4-3-3 cả, tức là sẽ luôn có sự hiện diện của một số 9 và 2 tiền đạo cánh,” Uwe Rösler, một cựu tiền vệ của Manchester City, từng có 3 năm dẫn dắt CLB Đan Mạch AGF và có kinh nghiệm huấn luyện trên khắp Scandinavia, chia sẻ với Opta Analyst. “Dù có nhiều cách vận hành khác nhau, nhưng hầu hết các đội bóng ở đây đều có một số 9, vì thế đây chính là nền tảng và có lẽ cũng là một lời giải thích cho câu hỏi vì sao các trung phong kiểu mẫu lại liên tục được ‘sản xuất’ ra ở Đan Mạch.”
Tuy nhiên, thật quá dễ để chúng ta quên mất rằng còn có nhiều yếu tố khác tuy hoàn toàn không hề liên quan đến bóng đá nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn.
Trước tiên là yếu tố di truyền học. Theo dữ liệu từ một nghiên cứu vào năm 2020 của NCD Risk Factor Collaboration - một mạng lưới toàn cầu của các nhà khoa học sức khoẻ - thì người Đan Mạch là nhóm dân số cao thứ 4 thế giới tính theo chiều cao trung bình. Người Thuỵ Điển và người Na Uy cũng nằm trong Top 13, còn nếu tính theo khu vực thì các nước Bắc Âu chỉ thua mỗi vùng Baltic.
“Người Đan Mạch thường rất cao, phải chứ? Các cầu thủ ở đây thậm chí còn cao hơn nữa, và điều này rất có lợi cho vị trí số 9,” Rösler phân tích. “Đã vậy ở khu vực này người dân còn có chế độ ăn uống rất tốt và chất lượng cuộc sống rất cao nữa.”
Vế cuối trong phân tích của Rösler chính là yếu tố kinh tế - xã hội. Dù không phải ai ở Scandinavia cũng giàu có, nhưng nhìn chung 3 quốc gia này được xem là những hình mẫu về kinh tế vì mức sống cao, chênh lệch thu nhập thấp, cộng với hệ thống giáo dục và chăm sóc y tế miễn phí. Nhiều người còn chỉ ra rằng việc bóng đá và các cơ sở hạ tầng thể thao được đầu tư bài bản chính là những điểm giúp phản ánh chất lượng dịch vụ công tuyệt vời ở Scandinavia - đặc biệt là Na Uy và Thuỵ Điển.
Tất nhiên, sẽ rất khó để chúng ta có thể khẳng định chắc chắn 100% rằng những yếu tố được nêu ra ở trên thực sự đứng sau “phong độ” tuyệt vời của Scandinavia trong việc sản sinh ra những trung phong đáng gờm, nhưng rõ ràng chúng ta có cơ sở để tin rằng đây hoàn toàn không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên.
“Chắc chắn không phải là ngẫu nhiên,” Rösler quả quyết. “Tôi tin rằng toàn bộ mô hình đào tạo cầu thủ ở đây đóng một vai trò rất lớn, và cả việc trong đội hình 4-3-3 bao giờ cũng có một số 9 nữa. Hệ thống đó được sử dụng rất thịnh hành và nhất quán tại Scandinavia, đặc biệt là ở Đan Mạch, từ tận dưới các đội trẻ. Và kế đến là yếu tố di truyền: Người ở đây rất cao, điều này rõ ràng cũng mang đến rất nhiều lợi ích. Khi bạn có thể kết hợp chiều cao với kỹ thuật, sự linh hoạt và tốc độ, bạn sẽ tiến rất xa.”
Tuy nhiên, vẫn có một mặt trái.
CÒN MẶT TRẬN PHÒNG NGỰ THÌ SAO?
Kể cả khi chúng ta giả định rằng sự bùng nổ của các trung phong Scandinavian chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng sẽ không ai có thể phủ nhận việc hệ sinh thái bóng đá tại một số khu vực trong vùng này đã thay đổi đáng kể và sự thay đổi ấy đã ảnh hưởng trực tiếp đến loại hình cầu thủ đang được “sản xuất” ra với tần suất cao nhất ở đây.
Chính Trưởng ban phát triển cầu thủ của Liên đoàn bóng đá Na Uy, ông Håkon Grøttland, cũng đã ám chỉ điều này trong một cuộc trả lời phỏng vấn với NPK hồi đầu năm nay: “Nói một cách thẳng thắn thì tất cả mọi người đều được huấn luyện như thể họ là những tiền vệ trung tâm, và đã có quá ít sự chú trọng vào, ví dụ như, khâu phòng ngự vòng cấm, nơi quyết định kết cục của các trận đấu.”
Georgson bình luận rằng có lẽ “con lắc” (ám chỉ sự chuyển dịch của định hướng huấn luyện) đang bị vung quá xa về một phía, tuy ông vẫn thừa nhận tầm quan trọng của việc đào tạo các kỹ năng kiểm soát, xử lý bóng từ sớm, vì chúng “mất nhiều thời gian hơn để phát triển”.
Mặt khác, Rösler lại đề cập đến khái niệm “thế hệ nhân tạo” - tức lứa cầu thủ trưởng thành chủ yếu trên các sân cỏ nhân tạo thay vì sân cỏ tự nhiên. Theo ông, loại mặt sân này đã tạo nên một môi trường chơi bóng hoàn toàn khác, từ đó sản sinh ra những mẫu cầu thủ rất khác so với trước kia.
“Tầm này các trận đấu toàn chủ yếu xoay quanh việc chuyền bóng tới chân nhau, không có hùng hục tắc bóng nữa, vậy nên khía cạnh đối kháng của cuộc chơi đã bị mờ nhạt đi,” Rösler nhận định. “Còn phần khía cạnh kỹ thuật thì lại phát triển mạnh vì các cầu thủ luôn được tập luyện trong điều kiện mặt sân lý tưởng. Quả bóng luôn lăn một cách hoàn hảo. Bạn có thể luyện khống chế bóng thật nhiều.”
“Thời tôi còn thi đấu vào những năm 1990 và đầu thập niên 2000, bóng đá Na Uy từng sản sinh ra rất nhiều hậu vệ khét tiếng sừng sỏ, chẳng hạn như Ronny Johnsen, Henning Berg, Erland Johnsen, nhưng giờ đây họ gần như chẳng còn trình làng được những hậu vệ như vậy nữa.”
Tình trạng khan hiếm các hậu vệ giàu tiềm năng có lẽ còn là hệ quả gián tiếp từ một quan niệm hết sức quen thuộc. Nhìn chung, các hậu vệ ít khi bị rút khỏi sân hơn các tiền đạo. Điều đó đồng nghĩa rằng, nếu bạn có một trung vệ 18 tuổi và một tiền đạo 18 tuổi trên băng ghế dự bị, thì người có khả năng được tung vào sân cao hơn thường là tiền đạo - nhờ đó cậu ta sẽ có nhiều cơ hội để thể hiện bản thân hơn.
“Việc trao cơ hội cho các tiền đạo trẻ sẽ chứa đựng ít rủi ro hơn so với các trung vệ trẻ,” Burchnall thừa nhận. “Hơn nữa, khi các tiền đạo trẻ ghi bàn, giá trị của họ trên thị trường có thể tăng lên rất cao, còn các hậu vệ thì hiếm khi nhận được sự chú ý như vậy. Vì thế, tôi nghĩ không có gì khó hiểu khi các CLB dành sự ưu ái cho những tiền đạo trẻ.”
NHỮNG THÁCH THỨC TIỀM ẨN
Rösler đồng ý rằng “nhu cầu thu lời là một yếu tố quan trọng khiến các CLB cho những cầu thủ trẻ của họ ra sân từ rất sớm”, và ông tin chắc rằng việc ra sân chinh chiến thực tế chính là cách học hỏi tốt nhất cho mọi cầu thủ trẻ, để qua đó đúc kết kinh nghiệm thông qua những sai lầm và tiến bộ. Đó chính là “người thầy lớn nhất,” ông khẳng định.
“Đây là một sự khác biệt lớn: Ở các quốc gia khác - như Anh chẳng hạn - bóng đá là một ngành kinh doanh thành tích, vậy nên chỉ có duy nhất một điều quan trọng: Chiến thắng các trận đấu. Nhưng ở những giải đấu khác (có ít tiềm lực tài chính hơn), thì việc thu lời từ hoạt động bán cầu thủ mỗi năm cũng quan trọng không kém.”
Các giải VĐQG ở Scandinavian có thành tích khá tốt trong việc tạo cơ hội cho các cầu thủ trẻ thi đấu ở đội một. Tính từ mùa giải 2011/12, trung bình 16,3% của tổng số phút thi đấu ở giải VĐQG Thuỵ Điển là do các cầu thủ U22 đảm nhận.
Con số được ghi nhận ở Na Uy là 18,3%, còn Đan Mạch chính là cái tên dẫn đầu với con số 20,3%. Trong cùng khung thời gian đó, con số ở Premier League là 8%, ở Serie A là 8,9%, ở La Liga là 9,1%, ở Bundesliga là 12,7% và ở Ligue 1 là 15,3%.
Thú vị thay, cũng trong khung thời gian đó thì giải VĐQG Thuỵ Điển lại được ghi nhận “độ tuổi trung bình của các đội hình xuất trận” (26 tuổi 113 ngày) cao hơn cả Bundesliga (25 tuổi 346 ngày) và Ligue 1 (26 tuổi 226 ngày), trong khi thống kê được ghi nhận ở các giải VĐQG Na Uy (25 tuổi 219 ngày) và Đan Mạch (25 tuổi 189 ngày) thì lại trẻ hơn đáng kể so với ở Top 5 giải VĐQG hàng đầu châu Âu.
Nhưng dù thế nào đi nữa, nhìn chung thì các giải VĐQG ở Scandinavia đang trao cơ hội cho những cầu thủ trẻ nhiều hơn rõ rệt, kể cả khi họ chủ yếu được ra sân từ băng ghế dự bị (như ở Thuỵ Điển). Dĩ nhiên là chuyện này chẳng phải là điều gì quá đột phá. Không có gì lạ khi Premier League là giải đấu có thống kê “tỷ lệ thời lượng thi đấu do các cầu thủ U22 đảm nhận” thấp nhất, bởi vì ai cũng biết rằng đây chính là giải VĐQG khắc nghiệt nhất thế giới.
Trong hệ sinh thái bóng đá châu Âu, nơi tiền bạc chi phối mọi thứ, các giải VĐQG ở Scandinavia chỉ đơn giản là có vị thế rất khiêm tốn và cực kỳ khó để điều đó thay đổi. Nhưng họ đang ngày càng giỏi hơn trong việc xuất khẩu tài năng, và điều này rõ ràng đã và đang mang lại những ảnh hưởng rất tích cực cho các ĐTQG của họ.
Tình trạng thiếu hụt các hậu vệ chất lượng có thể trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, ngoài ra còn có một trở ngại lớn khác sắp xuất hiện: Vào năm 2031 Liên minh châu Âu sẽ chính thức áp dụng lệnh cấm sử dụng lớp cao su vụn, một loại vật liệu được trải trên nhiều sân cỏ nhân tạo, vì lý do môi trường và an toàn cho cầu thủ. Ước tính, chỉ riêng ở Na Uy thôi thì chi phí để chuyển đổi toàn bộ hệ thống sân cỏ nhân tạo sang một vật liệu “thân thiện” hơn sẽ lên tới 560 triệu Euro (485 triệu bảng).
Hệ quả dây chuyền của khoản chi phí khổng lồ này có thể sẽ ảnh hưởng đến ngân sách dành cho các mảng khác của tầng lớp bóng đá cộng đồng (grassroots football), bóng đá trẻ. Hy vọng rằng hệ thống đào tạo trẻ ở Scandinavia đã đủ vững vàng, các phương pháp của họ đã đủ “ăn sâu” vào văn hoá và đủ mạnh mẽ để có thể trụ vững trước bất kỳ biến động nào.
Dù thế nào đi chăng nữa, chỉ cần dây chuyển sản xuất số 9 của họ có thể duy trì phong độ hiện tại, thì các học viện tại xứ sở này sẽ tiếp tục thu hút những ánh nhìn ngưỡng mộ từ khắp châu Âu.
Theo Ryan Benson, The Analyst.